SẸO
VẾT RẠN DA
DA KHÔNG ĐỀU MÀU
Bio-Oil® là sản phẩm giúp làm mờ sẹo và giảm rạn da hàng đầu thế giới.
Bio-Oil home Bio-Oil home
keyboard_arrow_down
Cách dùng
Sẹo
Sẹo
Sẹo là một phần trong quá trình làm lành vết thương và là kết quả của việc sản xuất collagen quá mức tại vùng bị tổn thương. Sẹo sẽ có nhiều thay đổi trong quá trình hình thành, nhưng đặc tính của sẹo là tồn tại vĩnh viễn. Bio-Oil được bào chế để giúp cải thiện tình trạng bên ngoài của sẹo, nhưng không thể xóa hẳn sẹo.
Cần mát-xa Bio-Oil theo vòng tròn lên vùng da bị sẹo, 2 lần mỗi ngày, trong vòng ít nhất 3 tháng. Đối với sẹo mới, chỉ được thoa Bio-Oil khi vết thương đã lành, và không dùng cho vết thương hở. Kết quả sẽ khác nhau tùy từng người.
Vết rạn da
Vết rạn da
Khi cơ thể dãn ra nhanh hơn lớp da bên ngoài thì lớp dưới da sẽ bị rách, tạo thành sẹo khi lành. Những sẹo này có thể thấy được trên bề mặt của da, là các vết rạn da.
Khả năng xuất hiện vết rạn da tùy thuộc vào loại da, chủng tộc, độ tuổi, chế độ ăn và độ ẩm trên da. Những người dễ bị rạn da nhất bao gồm phụ nữ có thai, người tập thể hình, thanh thiếu niên phát triển nhanh và người có trọng lượng cơ thể đang tăng nhanh chóng.
Vết rạn da có đặc tính tồn tại vĩnh viễn, và mặc dù Bio-Oil được bào chế giúp cải thiện tình trạng vết rạn da, nhưng không thể xóa bỏ vĩnh viễn.
Cần mát-xa Bio-Oil theo vòng tròn tại vùng da bị rạn, 2 lần mỗi ngày, trong vòng ít nhất 3 tháng. Khi mang thai, cần thoa Bio-Oil khi bắt đầu quý thứ hai, ở vùng da dễ bị rạn như bụng, ngực, vùng lưng dưới, hông, mông và đùi. Kết quả sẽ khác nhau tùy từng người.
Da không đều màu
Da không đều màu
Các vùng da không đều màu xuất hiện khi cơ thể sản xuất không đồng đều các sắc tố da. Đây có thể là do các nhân tố bên ngoài như tiếp xúc quá nhiều với ánh nắng mặt trời; hoặc các nhân tố bên trong như sự thay đổi hóc môn liên quan đến thai kỳ, mãn kinh hoặc việc sử dụng thuốc tránh thai. Bio-Oil giúp làm mờ các vùng da không đều màu.
Cần bôi Bio-Oil lên vùng da không đều màu, 2 lần mỗi ngày, trong vòng ít nhất 3 tháng. Bio-Oil không chứa các chất chống nắng. Nếu sử dụng sản phẩm chống nắng, bôi sản phẩm chống nắng sau khi Bio-Oil đã được thẩm thấu hoàn toàn vào da. Kết quả sẽ khác nhau tùy từng người.
Da lão hóa
Da lão hóa
Phần lớn da nhăn nheo khi lão hóa là do hệ thống hỗ trợ collagen và elastin bị suy yếu. Bio-Oil chứa nhiều thành phần giúp da đàn hồi, khiến da mềm, mịn hơn, và dẻo dai hơn, nhờ đó giảm được sự xuất hiện của vết nhăn. Bio-Oil cũng giúp dưỡng ẩm, cải thiện bề mặt, màu sắc, và sự xuất hiện vết hằn và vết nhăn trên da.
Cần bôi Bio-Oil vào vùng da bị nhăn 2 lần mỗi ngày. Kết quả sẽ khác nhau tùy từng người.
Da khô
Da khô
Bề mặt của da có một lớp dầu không nhìn thấy được, lớp dầu này đóng vai trò là lớp bảo vệ để ngăn độ ẩm thoát ra ngoài. Trong môi trường khí hậu rất khô, lớp dầu này thường không thể bảo vệ da và độ ẩm sẽ thoát ra ngoài nhiều. Việc tắm hằng ngày có thể làm tình trạng này tồi tệ hơn, bằng cách bóc đi lớp dầu trên da với hiệu ứng tẩy rửa của xà phòng với nước. Bio-Oil bổ sung cho lớp dầu tự nhiên trên da, giúp phục hồi chức năng bảo vệ giữ độ ẩm cho da.
Cần bôi Bio-Oil lên da 2 lần mỗi ngày. Kết quả sẽ khác nhau tùy từng người.

Công thức
Công thức
Công thức
Công thức Bio-Oil là sự kết hợp các chiết xuất từ thực vật và các vitamin phân tán đều trong gốc dầu. Công thức này chứa thành phần đột phá PurCellin Oil™, giúp thay đổi độ đặc của công thức, làm cho sản phẩm có cảm giác nhẹ và không nhờn, đảm bảo rằng những tinh chất trong vitamin và chiết xuất từ thực vật dễ dàng được hấp thụ.
Bio-Oil đã được kiểm nghiệm an toàn theo Quy định của Nghị viện châu Âu và của Ủy ban các sản phẩm mỹ phẩm. Thông tin độc tính, cấu trúc hóa học, nồng độ tạp chất, và tổng lượng sử dụng hằng ngày của mỗi thành phần đã được kiểm nghiệm và cho phép sử dụng (ngay cả đối với phụ nữ mang thai).
Thành phần
Thành phần
Chiết xuất thực vật
Chiết xuất từ hoa Cúc xu xi (Dầu Cúc xu xi)
Dầu Oải hương (Dầu Oải hương)
Dầu lá Hương thảo (Dầu Hương thảo)
Dầu hoa Cúc La Mã (Dầu Cúc La Mã)
Vitamin
Retinyl Palmitate (Vitamin A)
Tocopheryl Acetate (Vitamin E)
Hệ dầu
Paraffinum Liquidum
Triisononanoin
Cetearyl Ethylhexanoate
Isopropyl Myristate
Glycine Soja Oil
Helianthus Annuus Seed Oil
Tocopherol
Bisabolol
Hương liệu (Hương hoa hồng)
Hương liệu
Alpha-Isomethyl Ionone
Amyl Cinnamal
Benzyl Salicylate
Citronellol
Coumarin
Eugenol
Farnesol
Geraniol
Hydroxycitronellal
Limonene
Linalool
Colour
CI 26100
Sản xuất
Sản xuất
Bio-Oil được sản xuất theo tiêu chuẩn cGMP (tiêu chuẩn thực hành tốt sản xuất hiện hành) được đề ra bởi Tổ chức Y tế thế giới. Tất cả các thành phần đều được kiểm nghiệm về độ pha tạp và vi sinh trước khi được sản xuất và mẫu của mỗi lô sản xuất đều được kiểm nghiệm tại phòng thí nghiệm, sau đó được lưu trữ và theo dõi trong vòng 5 năm.
Tất cả bao bì đóng gói của Bio-Oil đều tái chế được và tất cả nguyên liệu giấy đều được chứng nhận theo nguyên tắc quản lý rừng bền vững.
Trong quá trình sản xuất Bio-Oil, không có khí thải, chất thải hay nước thải độc hại đối với môi trường.

Nghiên cứu lâm sàng
Nghiên cứu về sẹo, 2010
Nghiên cứu về sẹo, 2010
Trung tâm thử nghiệm
Viện nghiên cứu da liễu ứng dụng proDERM, Hamburg, Đức.
Mục tiêu
Để đánh giá hiệu quả của Bio-Oil trong việc cải thiện tình trạng bên ngoài của sẹo.
Mẫu thử
Đối tượng: 36 nữ từ các chủng tộc khác nhau. Độ tuổi người tham gia: 18 đến 65 tuổi. Tuổi sẹo: mới hình thành cho đến 3 năm. Vị trí sẹo: bụng, chân, cánh tay, cổ, đầu gối, thân mình, thân trên.
Phương pháp thử nghiệm
Phương pháp mã hóa đôi sản phẩm, ngẫu nhiên, và có đối chứng với nhóm dùng giả dược. Các đối tượng có sẹo gần giống nhau hoặc sẹo đủ lớn để có thể áp dụng cho mẫu nửa vết sẹo và để so sánh trên cùng đối tượng. Sản phẩm được dùng 2 lần mỗi ngày trong vòng 8 tuần, không cần mát-xa thêm trên vị trí dùng thử. Việc bôi mẫu được thực hiện đều đặn dưới sự giám sát chặt chẽ. Đánh giá được thực hiện tại thời điểm bắt đầu, sau 2 tuần, 4 tuần và 8 tuần. Các thông số về sẹo được đánh giá theo như qui định trong thang điểm đánh giá sẹo của bệnh nhân và người đánh giá (POSAS).
Kết quả
Bio-Oil có hiệu quả trong việc cải thiện tình trạng bên ngoài của sẹo. Kết quả thống kê cho thấy hiệu quả mờ sẹo rõ rệt chỉ sau 2 tuần (ngày thứ 15), trên 66% đối tượng. Sau 8 tuần (ngày thứ 57), 92% đối tượng cho thấy đã cải thiện, gần như gấp 3 lần so với thời điểm 2 tuần. Trong suốt thời gian nghiên cứu, thang điểm đánh giá sẹo (POSAS) liên tục cho thấy những cải thiện.
Nghiên cứu về sẹo, 2005
Nghiên cứu về sẹo, 2005
Trung tâm thử nghiệm
Phòng thí nghiệm quang-sinh của trường đại học Y Nam Phi.
Mục tiêu
Để đánh giá hiệu quả của Bio-Oil trong việc cải thiện tình trạng bên ngoài của sẹo.
Mẫu thử
Đối tượng: 24 người tham gia, 22 nữ và 2 nam. Độ tuổi người tham gia: 18 đến 60 tuổi. Tuổi sẹo: mới hình thành cho đến 3 năm. Loại sẹo: từ vết bỏng nhẹ cho đến sẹo phẫu thuật (12 sẹo lớn, 14 sẹo nhỏ - 1 người tham gia có đến 3 vị trí sẹo).
Phương pháp thử nghiệm
Phương pháp mã hóa đơn đối với người đánh giá, ngẫu nhiên và có đối chứng. Nghiên cứu theo cặp giúp dễ dàng so sánh trên cùng một đối tượng. Các đối tượng có sẹo gần giống nhau hoặc một sẹo đủ lớn để có thể áp dụng cho mẫu nửa vết sẹo. Sản phẩm được dùng 2 lần mỗi ngày trong vòng 12 tuần trên vùng da thử nghiệm. Việc bôi mẫu được thực hiện đều đặn dưới sự giám sát chặt chẽ. Đánh giá được thực hiện vào thời điểm bắt đầu, 4 tuần, 8 tuần và 12 tuần.
Kết quả
Bio-Oil giúp cải thiện tình trạng bên ngoài của sẹo trong cả các đợt đánh giá chủ quan và khách quan. 65% đối tượng được công bố là có cải thiện trong 4 tuần.
Thử nghiệm trên người có sẹo, 2002
Thử nghiệm trên người có sẹo, 2002
Trung tâm thử nghiệm
Ayton-Moon, Somerset, United Kingdom.
Mục tiêu
Đánh giá khả năng cải thiện tình trạng bên ngoài của sẹo của Bio-Oil trong cuộc thử nghiệm trên 82 người dùng.
Mẫu thử
Đối tượng: 82 người tham gia gồm cả người lớn và trẻ em. Tuổi sẹo: mới hình thành cho đến hơn 10 năm. Loại sẹo: lồi, phẳng và sẹo lõm, từ các vết bỏng nhẹ, trầy da, cho đến sẹo phẫu thuật. Vị trí sẹo: nhiều nơi.
Phương pháp thử nghiệm
Sản phẩm được dùng 3 lần mỗi ngày trong vòng 4 tuần. Các đối tượng được hướng dẫn mát-xa sản phẩm trên sẹo theo vòng tròn đến khi sản phẩm thấm hoàn toàn vào da. Các cuộc phỏng vấn được tiến hành tại thời điểm bắt đầu, tuần thứ 2 và thứ 4. Người dùng đánh giá mức độ cải thiện theo thang điểm từ 1-9 (1: ‘không cải thiện’ và 9: ‘cải thiện nhiều’).
Kết quả
82% người tham gia được công bố là có cải thiện tình trạng bên ngoài của sẹo sau 4 tuần.
Nghiên cứu về sẹo mụn, 2012
Nghiên cứu về sẹo mụn, 2012
Trung tâm thử nghiệm
Phòng da liễu, Bệnh Viện hàng đầu Đại học Bắc Kinh, Bắc Kinh, Trung Quốc.
Mục tiêu
Nghiên cứu thăm dò đánh giá hiệu quả của Bio-Oil trong việc cải thiện tình trạng bên ngoài của sẹo mụn trên mặt trên các đối tượng người Trung Quốc.
Mẫu thử
Đối tượng: 44 đối tượng người Trung Quốc với các vết sẹo mụn mới hình thành trên mặt (dưới 1 năm). Nhóm dùng Bio-Oil gồm 32 đối tượng và nhóm không sử dụng gồm 12 người còn lại. Độ tuổi người tham gia: 14-30 tuổi.
Phương pháp thử nghiệm
Ngẫu nhiên, có đối chứng, và người đánh giá không biết thông tin về đối tượng. Các đối tượng tham gia đợt đánh giá sơ bộ ban đầu và một đợt không dùng sản phẩm nào trong 1 tuần. Sản phẩm được dùng 2 lần mỗi ngày trong 10 tuần. Việc bôi mẫu được thực hiện đều đặn dưới sự giám sát chặt chẽ. Đánh giá được thực hiện ở thời điểm bắt đầu, 4 tuần, 8 tuần, và 10 tuần bao gồm các hoạt động sau: Người đánh giá cho điểm theo thang điểm sẹo toàn cầu (GSS), màu sắc/mức độ đỏ của sẹo được đo bằng máy so màu, lượng bã nhờn được đo bằng máy đo nhờn và các chuyên gia da liễu đánh giá số lượng mụn cám và các khối sưng tấy. Các đối tượng cũng tự đánh giá trên bảng câu hỏi sau mỗi lần được kiểm tra.
Kết quả
Kết quả tốt nhất khi đánh giá lâm sàng là khả năng giảm tấy đỏ trên sẹo phẳng của Bio-Oil, nhìn chung da sẽ sáng lên. Kết quả tự đánh giá cho thấy hơn 84% đối tượng nhận thấy sự cải thiện tổng quát đối với sẹo mụn và hơn 90% nhận thấy màu sẹo mờ đi. Số lượng mụn và lượng bã nhờn đo được cho thấy Bio-Oil không làm nhiều mụn hơn hay tăng tiết bã nhờn.
Nghiên cứu về vết rạn da, 2010
Nghiên cứu về vết rạn da, 2010
Trung tâm thử nghiệm
Viện nghiên cứu da liễu ứng dụng proDERM, Hamburg, Đức.
Mục tiêu
Đánh giá hiệu quả của Bio-Oil trong việc cải thiện tình trạng bên ngoài đối với vết rạn da.
Mẫu thử
Đối tượng: 38 nữ từ các dân tộc khác nhau. Độ tuổi người tham gia: 18-65 tuổi. Nguyên nhân gây rạn da: nhiều nguyên nhân (sau khi sinh, tăng cân hay do tăng trưởng nhanh ở thanh thiếu niên). Vị trí vết rạn da: bụng, đùi và hông.
Phương pháp thử nghiệm
Phương pháp mã hóa đôi sản phẩm, ngẫu nhiên, và có đối chứng với nhóm dùng giả dược. Các đối tượng có vết rạn da gần giống nhau hoặc vết rạn da đủ lớn để có thể áp dụng cho mẫu nửa vết rạn và so sánh trên cùng đối tượng. Sản phẩm được dùng 2 lần mỗi ngày trong vòng 8 tuần, không cần mát-xa thêm trên vị trí dùng thử. Việc bôi mẫu được thực hiện đều đặn dưới sự giám sát chặt chẽ. Đánh giá được thực hiện tại thời điểm bắt đầu, sau 2 tuần, 4 tuần và 8 tuần. Các thông số sẹo được đánh giá theo như qui định trong thang điểm đánh giá sẹo của bệnh nhân và người đánh giá (POSAS).
Kết quả
Bio-Oil có hiệu quả trong việc cải thiện tình trạng bên ngoài vết rạn. Kết quả thống kê cho thấy hiệu quả rõ rệt chỉ sau 2 tuần (ngày thứ 15), trên 95% đối tượng. Sau 8 tuần (ngày thứ 57), 100% đối tượng cho thấy vết rạn đã được cải thiện, hơn gấp 2 lần so với thời điểm 2 tuần. Trong suốt quá trình nghiên cứu, thang điểm đánh giá sẹo (POSAS) liên tục cho thấy được cải thiện.
Nghiên cứu về vết rạn da, 2005
Nghiên cứu về vết rạn da, 2005
Trung tâm thử nghiệm
Phòng thí nghiệm quang-sinh của trường đại học Y Nam Phi.
Mục tiêu
Đánh giá hiệu quả của Bio-Oil trong việc cải thiện tình trạng bên ngoài đối với vết rạn da.
Mẫu thử
Đối tượng: 20 nữ. Độ tuổi người tham gia: 18-55 tuổi. Vị trí vết rạn da: vùng bụng.
Phương pháp thử nghiệm
Phương pháp mã hóa đơn đối với người đánh giá, ngẫu nhiên và có đối chứng. Nghiên cứu theo cặp giúp dễ dàng so sánh trên cùng đối tượng. Đối tượng có vết rạn da ở 2 bên bụng để có thể đánh giá một nửa phần bụng. Sản phẩm được dùng 2 lần mỗi ngày trong vòng 12 tuần trên vùng da thử nghiệm. Việc bôi mẫu được thực hiện đều đặn dưới sự giám sát chặt chẽ. Đánh giá được thực hiện tại thời điểm bắt đầu, sau 4 tuần, 8 tuần và 12 tuần.
Kết quả
Bio-Oil giúp cải thiện tình trạng rạn da qua kết quả đánh giá chủ quan và khách quan. 50% đối tượng nhận thấy vết rạn da mờ đi sau 8 tuần.
Nghiên cứu về da không đều màu, 2011
Nghiên cứu về da không đều màu, 2011
Trung tâm thử nghiệm
Thomas J. Stephens & Associates, Inc., Texas, Mỹ.
Mục tiêu
Đánh giá hiệu quả của Bio-Oil trong việc cải thiện tình trạng da không đều màu và tăng sắc tố da khi sử dụng bởi phụ nữ có làn da bị hư tổn do ánh nắng (lão hóa) ở mức độ nhẹ đến trung bình, ở mặt và cổ.
Mẫu thử
Đối tượng: 67 nữ (từ nhiều dân tộc khác nhau) có da mặt và cổ được kiểm nghiệm lâm sàng cho thấy hư tổn do ánh nắng ở mức độ từ nhẹ đến trung bình. Nhóm dùng Bio-Oil gồm 35 đối tượng và nhóm không dùng gồm 32 đối tượng. Độ tuổi người tham gia: 30-70 tuổi.
Phương pháp thử nghiệm
Ngẫu nhiên, có đối chứng, và người đánh giá hoàn toàn không biết thông tin về đối tượng. Các đối tượng trải qua một đợt đánh giá sơ bộ ban đầu và một đợt không dùng sản phẩm nào trong 1 tuần. Sản phẩm được dùng 2 lần mỗi ngày trong 12 tuần. Việc bôi mẫu được thực hiện đều đặn dưới sự giám sát chặt chẽ trong lần kiểm tra căn bản đầu tiên. Đánh giá lâm sàng được thực hiện ở thời điểm bắt đầu, 2 tuần, 4 tuần, 8 tuần, và 12 tuần. Đối tượng được đánh giá lâm sàng riêng trên da mặt và da cổ về tình trạng da không đều màu và tăng sắc tố da.
Kết quả
Bio-Oil có hiệu quả trong việc cải thiện tình trạng da không đều màu và tăng sắc tố da ở da bị tổn thương do ánh nắng (lão hóa). Kết quả thống kê cho thấy hiệu quả rõ rệt sau 4 tuần đối với các thông số trên da mặt và cổ. Sau 12 tuần kết quả thống kê đối với người dùng Bio-Oil cho thấy 86% đối tượng có cải thiện đáng kể ở vùng da không đều màu trên mặt, 71% đối tượng có cải thiện tình trạng tăng sắc tố da trên mặt, 69% đối tượng cải thiện tình trạng da không đều màu trên cổ và 60% đối tượng cải thiện tình trạng tăng sắc tố da trên cổ.
Nghiên cứu trên da không đều màu, 2005
Nghiên cứu trên da không đều màu, 2005
Trung tâm thử nghiệm
Phòng thí nghiệm quang-sinh của trường đại học Y Nam Phi.
Mục tiêu
Đánh giá hiệu quả của Bio-Oil trong việc cải thiện tình trạng da không đều màu.
Mẫu thử
Đối tượng: 30 phụ nữ từ nhiều dân tộc khác nhau. Độ tuổi người tham gia: 18-55 tuổi. Loại sạm da: nám da mặt.
Phương pháp thử nghiệm
Phương pháp mã hóa đơn đối với người đánh giá, ngẫu nhiên và có đối chứng. Phương pháp thử nghiệm song song giúp dễ dàng so sánh trên cùng đối tượng. Các đối tượng có vết sạm da phân tán đều 2 bên mặt để có thể đánh giá được trên nửa phần mặt/cổ. Sản phẩm được dùng 2 lần mỗi ngày trong vòng 12 tuần trên vùng da thử nghiệm. Việc bôi mẫu được thực hiện đều đặn dưới sự giám sát chặt chẽ. Đánh giá được thực hiện tại thời điểm bắt đầu, sau 4 tuần, 8 tuần và 12 tuần.
Kết quả
Bio-Oil giúp làm cải thiện tình trạng da không đều màu ở cả người có nước da sáng và nước da tối. 93% đối tượng được công bố có cải thiện từ 6 tuần. Bác sỹ lâm sàng thấy sự cải thiện như nhau ở người có nước da sáng và tối từ thời điểm bắt đầu đến tuần thứ 8. Bác sỹ lâm sàng thấy người có nước da tối được cải thiện nhiều hơn từ tuần 8 tới tuần 12.
Nghiên cứu trên da lão hóa, 2011
Nghiên cứu trên da lão hóa, 2011
Trung tâm thử nghiệm
Thomas J. Stephens & Associates, Inc., Texas, Mỹ.
Nghiên cứu số 1: Mặt và cổ
Mục tiêu
Đánh giá hiệu quả của Bio-Oil khi được sử dụng bởi các phụ nữ có da mặt và cổ bị lão hóa do ánh nắng ở mức độ nhẹ đến trung bình.
Mẫu thử
Đối tượng: 67 phụ nữ (từ các dân tộc khác nhau) có da ở vùng mặt và cổ bị lão hóa do ánh nắng được đánh giá lâm sàng ở mức độ nhẹ đến trung bình. Nhóm dùng Bio-Oil gồm 35 đối tượng và nhóm không dùng gồm 32 đối tượng. Độ tuổi người tham gia: 30-70 tuổi.
Phương pháp thử nghiệm
Ngẫu nhiên, có đối chứng, và người đánh giá không biết thông tin về đối tượng. Đối tượng trải qua một đợt đánh giá sơ bộ ban đầu và một đợt không dùng sản phẩm nào trong 1 tuần. Sản phẩm được dùng trên da mặt và cổ 2 lần mỗi ngày trong 12 tuần. Việc bôi mẫu được thực hiện dưới sự giám sát chặt chẽ trong lần kiểm tra căn bản đầu tiên. Đánh giá lâm sàng được thực hiện ở thời điểm bắt đầu, 2 tuần, 4 tuần, 8 tuần, và 12 tuần. Đối tượng được đánh giá lâm sàng riêng trên mặt và trên cổ dựa trên các thông số hiệu quả sau: tổng thể bên ngoài, vết nhăn mờ, vết nhăn sâu, vết sạm da, da không đều màu, độ mềm/thô ráp kiểm tra bằng mắt, độ mềm/thô ráp đánh giá bằng xúc giác, độ săn chắc da bên ngoài, và độ rạng rỡ (xỉn màu) của da.
Kết quả
Bio-Oil có hiệu quả trong việc cải thiện dấu hiệu của da bị lão hóa do ánh nắng mặt trời ở vùng mặt và cổ. Kết quả thống kê cho thấy có hiệu quả lâm sàng rõ rệt sau 8 tuần đối với tất cả các thông số hiệu quả trên. Sau 12 tuần 94% đối tượng dùng Bio-Oil cho thấy sự cải thiện rõ rệt về mặt tổng quan trên vùng da mặt và 80% đối tượng cho thấy sự cải thiện rõ rệt về mặt tổng quan trên vùng da cổ.
Nghiên cứu số 2: Trên cơ thể
Mục tiêu
Đánh giá hiệu quả của Bio-Oil khi dùng trên vùng da dưới cổ, cẳng chân và cánh tay ở phụ nữ có da bị lão hóa do ánh nắng ở mức độ nhẹ đến trung bình.
Mẫu thử
Đối tượng: 67 nữ (từ các dân tộc khác nhau) có mức độ da ở vùng mặt và cổ bị lão hóa do ánh nắng được đánh giá lâm sàng ở mức nhẹ đến trung bình. Nhóm dùng Bio-Oil gồm 35 người và nhóm không dùng gồm 32 người. Độ tuổi người tham gia: 30-70 tuổi.
Phương pháp thử nghiệm
Ngẫu nhiên, có đối chứng, và người đánh giá không biết thông tin về đối tượng. Đối tượng trải qua một đợt đánh giá sơ bộ ban đầu và một đợt không dùng sản phẩm nào trong 1 tuần. Sản phẩm được dùng trên da cổ, chân dưới và cánh tay 2 lần mỗi ngày trong 12 tuần. Việc bôi mẫu được thực hiện dưới sự giám sát chặt chẽ trong lần kiểm tra căn bản đầu tiên. Đánh giá lâm sàng được thực hiện ở thời điểm bắt đầu, 2 tuần, 4 tuần, 8 tuần, và 12 tuần. Đối tượng được đánh giá cho điểm lâm sàng riêng trên vùng da dưới cổ, cẳng chân, và cánh tay dựa trên các thông số hiệu quả sau: tổng quan bên ngoài, vết nhăn gấp, độ khô/bong vảy, độ thô ráp/mềm mại kiểm tra bằng mắt, và độ thô ráp/mềm mại đánh giá bằng xúc giác.
Kết quả
Bio-Oil có hiệu quả trong việc cải thiện dấu hiệu của da bị lão hóa do ánh nắng mặt trời ở các vùng da trên thân thể. Kết quả thống kê cho thấy hiệu quả lâm sàng rõ rệt sau 4 tuần đối với tất cả các thông số hiệu quả trên. Sau 12 tuần, 89% đối tượng dùng Bio-Oil cho thấy sự cải thiện tổng quát rõ rệt trên vùng da dưới cổ, cẳng chân và cánh tay.
Nghiên cứu trên da bị mất nước, 2011
Nghiên cứu trên da bị mất nước, 2011
Trung tâm thử nghiệm
Phòng thí nghiệm quang-sinh của trường đại học Y Nam Phi.
Nghiên cứu số 1
Mục tiêu
Đánh giá hiệu quả sau một lần sử dụng Bio-Oil trong việc cải thiện chức năng bảo vệ và giữ ẩm của lớp sừng.
Mẫu thử
Đối tượng: 40 nữ từ các dân tộc khác nhau. Vùng da thử nghiệm: mẫu thử được thoa bên trong cẳng tay của tất cả các đối tượng.
Phương pháp thử nghiệm
Đầu tiên đánh giá độ ẩm của da bằng máy đo độ ẩm là biện pháp đo chính, sau đó đánh giá chức năng làm màng chắn bảo vệ bằng máy đo mức độ bay hơi nước. Các đối tượng rửa sạch cẳng tay bằng xà phòng 2 tiếng trước khi tiến hành đo các thông số. Tiến hành phép đo cơ bản bằng dụng cụ. Bio-Oil và một mẫu dầu đối chứng được bôi lên các vùng da riêng ở mặt trong cẳng tay của tất cả các đối tượng. Tiến hành đo lại ngay sau khi bôi, sau khi bôi 2 tiếng, trước và sau khi lau sạch sản phẩm. Một vùng da đối chứng không được bôi cũng được đo cùng lúc tại các thời điểm trên.
Kết quả
Ngay sau khi bôi mẫu, cả 2 loại dầu đều làm giảm lượng nước mất qua da (TEWL) so với vùng da đối chứng không được bôi. Kết quả gia tăng điện dung ở da tại thời điểm 2 tiếng trước khi lau sạch cho thấy hiệu quả giữ ẩm tốt cho da của cả hai loại dầu. Tại thời điểm hai tiếng sau, sau khi lau sạch dầu khỏi bề mặt da, với Bio-Oil, giá trị TEWL tiếp tục tăng lên so với dầu đối chứng, điều này cho thấy hơi ẩm thoát ra nhiều hơn, và do đó, da đã được dưỡng ẩm nhiều hơn.
Nghiên cứu số 2
Mục tiêu
Đánh giá hiệu quả của việc sử dụng Bio-Oil một ngày 2 lần trong việc dưỡng ẩm và giảm khô da.
Mẫu thử
Đối tượng: 25 nữ là người châu Âu. Vùng da thử nghiệm: Mẫu thử được thoa bên ngoài cẳng chân của tất cả các đối tượng.
Phương pháp thử nghiệm
Xà phòng được dùng để làm khô da trong vòng 7 ngày. Thoa Bio-Oil và một mẫu dầu đối chứng 2 lần mỗi ngày. Việc đánh giá da được thực hiện ở ngày thứ 1 và thứ 3. Việc đánh giá ngoại quan được thực hiện bởi người đã được đào tạo đánh giá ngoại quang bằng cách sử dụng đèn phóng đại 2 lần. Một vùng da đối chứng không được bôi cũng được đánh giá cùng lúc tại các thời điểm trên.
Kết quả
Cả Bio-Oil và mẫu dầu đối chứng đều giúp cải thiện tình trạng khô da so với vùng da không được bôi. Vào ngày thứ 3, Bio-Oil có được các thông số vượt trội. Những cải thiện đáng kể đối với tình trạng bên ngoài trên những vùng da được thoa Bio-Oil xác nhận hiệu quả của loại dầu này trong việc giảm khô da.
Thử nghiệm về tính gây mụn, 2006
Thử nghiệm về tính gây mụn, 2006
Trung tâm thử nghiệm
Future Cosmetics, Pretoria, Nam Phi.
Mục tiêu
Thử nghiệm xem Bio-Oil có thể gây mụn trứng cá và mụn cám (mụn nhọt) hay không.
Mẫu thử
Đối tượng: 21 người tham gia, gồm 17 nữ và 4 nam từ các dân tộc khác nhau, 50% dễ bị mụn.
Phương pháp thử nghiệm
Ngẫu nhiên và có đối chứng. Sản phẩm được dùng 2 lần mỗi ngày trong vòng 28 ngày. 3 vùng da được đánh giá: vùng da không được thoa mẫu (đối chứng âm), vùng da được thoa mẫu Bio-Oil, và vùng da được thoa mẫu acetylated lanolin alcohol (đối chứng dương tính - một sản phẩm gây mụn trứng cá đã biết). Mẫu được thoa lên vùng da lưng phía trên (bả vai).
Kết quả
Bio-Oil được đánh giá là không gây mụn trứng cá và không gây mụn nhọt. Vùng da được thoa Bio-Oil không khác biệt lớn so với vùng da không được thoa mẫu. Vùng da thoa mẫu đối chứng dương tính gây mụn.
Thử nghiệm trên da nhạy cảm, 2006
Thử nghiệm trên da nhạy cảm, 2006
Trung tâm thử nghiệm
Future Cosmetics, Pretoria, Nam Phi.
Mục tiêu
Thử nghiệm xem Bio-Oil có gây kích ứng da trên những đối tượng có da nhạy cảm không.
Mẫu thử
Đối tượng: 21 người tham gia. Độ tuổi người tham gia: 18-65 tuổi. Tiêu chuẩn chọn lọc: các đối tượng có da nhạy cảm được chọn và được thoa chất đối chứng dương tính (axit lactic) để xác minh tình trạng nhạy cảm của da.
Phương pháp thử nghiệm
Ngẫu nhiên và có đối chứng. 3 vùng da được đánh giá: vùng da được thoa nước khử ion (mẫu đối chứng âm tính), vùng da được thoa Bio-Oil, và vùng da được thoa dung dịch Sodium Lauryl Sulfate 1% (mẫu đối chứng dương tính - chất gây kích ứng da) -. Mẫu thử được thoa lên da qua một lớp dán ở vùng bên trong cẳng tay và được gỡ ra sau 24h. Đánh giá da và ghi lại các phản ứng tại thời điểm 24h, 48h, 72h và 96h sau khi thoa mẫu. Các chuyên gia da liễu sẽ có mặt trong quá trình đánh giá. Các phản ứng ở da được cho điểm từ 0-4 (0: không có phản ứng gì và 4: đỏ rát)
Kết quả
Bio-Oil được phát hiện không gây kích ứng da trên các đối tượng có da nhạy cảm. Không có đối tượng nào phản ứng với Bio-Oil. Bio-Oil có mức độ phản ứng trung bình là 0,03 trong suốt 96 tiếng. Bio-Oil có tác dụng tốt hơn nước khử ion (đối chứng âm tính).
Nghiên cứu về mức độ thẩm thấu, 2011
Nghiên cứu về mức độ thẩm thấu, 2011
Trung tâm thử nghiệm
Viện nghiên cứu da liễu ứng dụng proDERM, Hamburg, Đức.
Nghiên cứu số 1
Mục tiêu
Đánh giá mức độ thẩm thấu của Bio-Oil sau khi được thoa lên da.
Mẫu thử
Đối tượng: 22 chuyên viên đánh giá đã qua huấn luyện (21 nữ và 1 nam). Vùng da thử nghiệm: thoa mẫu thử bên trong cẳng tay của tất cả các chuyên viên đánh giá.
Phương pháp thử nghiệm
Phương pháp mã hóa đôi sản phẩm, ngẫu nhiên, và có đối chiếu. Bio-Oil và mẫu đối chứng được bôi lên vùng da bên trong cẳng tay của những chuyên viên đánh giá. Các chuyên viên đánh giá bôi 100 vòng với tốc độ được định trước. Sau đó họ sẽ đánh giá trên thang điểm 5 từ “thẩm thấu rất chậm” cho đến “thấm thấu rất nhanh”. Máy đo độ nhờn được dùng để đánh giá lượng dầu trên da tại hai thời điểm - trước khi bôi mẫu và 2 phút sau khi bôi mẫu.
Kết quả
Hầu hết (77,3%) những người đánh giá đã qua huấn luyện đánh giá mức độ thẩm thấu của Bio-Oil trên da là “rất nhanh” hoặc “nhanh”. Kết quả này được xác minh qua việc đo bằng máy đo độ nhờn với kết quả lần thứ hai cho thấy rằng lượng Bio-Oil còn lại trên da thấp hơn rõ rệt so với dầu đối chứng.
Nghiên cứu số 2
Mục tiêu
Đánh giá mức độ thẩm thấu của Bio-Oil sau khi thoa một lượng chuẩn lên da và chà xát.
Mẫu thử
Đối tượng: 100 người (97 nữ và 3 nam). Vùng da thử nghiệm: thoa mẫu thử bên trong cẳng tay của tất cả những người tham gia.
Phương pháp thử nghiệm
Phương pháp mã hóa đôi sản phẩm, ngẫu nhiên, và có đối chứng. Bio-Oil và mẫu dầu đối chứng được bôi lên vùng da phía trong cẳng tay của những người tham gia. Những người tham gia chà xát sản phẩm thử trong vòng 1 phút. Sau đó họ sẽ đánh giá trên thang điểm 5 từ ‘thẩm thấu rất chậm’ cho đến ‘thấm thấu rất nhanh’.
Kết quả
Mức độ thẩm thấu của Bio-Oil trên da được đánh giá là ‘rất nhanh’ hoặc ‘nhanh’ bởi hầu hết (72%) những người tham gia.
Thử nghiệm về khả năng bao bọc kín, 2008
Thử nghiệm về khả năng bao bọc kín, 2008
Trung tâm thử nghiệm
Được thử nghiệm bởi giáo sư tiến sĩ J Wiechers ở phòng thí nghiệm Rigano, Milan, Ý.
Mục tiêu
Đánh giá xem Bio-Oil có thể hiện khả năng bao bọc tương tự như của lớp màng sáp ở trẻ sơ sinh hay không (loại màng sinh học màu trắng sữa và nhớt bao bọc lấy em bé khi đang trong bụng mẹ, loại màng này được các nhà khoa học về mỹ phẩm coi như “tiêu chuẩn vàng” về dưỡng ẩm cho da nhờ khả năng bao bọc lý tưởng).
Phương pháp thử nghiệm
Lượng nước cố định được cho vào trong các cốc thí nghiệm và đậy kín bằng một lớp màng bán-thẩm thấu gọi là Vitro-Skin™ loại có tính chất tương tự tính chất bề mặt của da người. Lớp màng sáp ở trẻ sơ sinh và Bio-Oil được thoa lên màng đó và tỉ lệ mất nước ở lọ được đo theo thời gian. Kết quả này được so sánh với tỉ lệ mất nước khi không thoa bất kỳ sản phẩm nào lên lớp màng này. Tỉ lệ trao đổi hơi nước đối với mỗi sản phẩm được tính và thể hiện theo đơn vị g/m2/h.
Kết quả
Bio-Oil cho thấy mức độ bao bọc tương đương với lớp màng sáp ở trẻ sơ sinh, kết quả của Bio-Oil là 23,5 và kết quả của lớp màng sáp ở trẻ sơ sinh là 27,2.

Giải thưởng
Giải thưởng Được khuyên dùng
Sản phẩm được khuyến nghị bởi bác sĩ/dược sĩ/ hộ lý cho tình trạng sẹo và rạn da
Australia, Khảo sát Bác sĩ (ACA Research HCP Study Jan 2019, 2019)
Australia, Khảo sát Dược sĩ (ACA Research HCP Study Jan 2019, 2019)
Canada, Khảo sát Bác sĩ (EnsembleIQ Healthcare Group and RK Insights, 2019)
Canada, Khảo sát Dược sĩ (EnsembleIQ Healthcare Group and RK Insights, 2019)
Germany, Khảo sát Dược sĩ (BVDA / German Pharmacist Association, 2015)
Ireland, Khảo sát Dược sĩ (3 Gem, 2015)
Italy, Khảo sát Nữ hộ sinh (Millward Brown, 2014)
Kenya, Khảo sát Dược sĩ (Consumer Insight, 2015)
New Zealand, Khảo sát Bác sĩ (Colmar Brunton, 2018)
South Africa, Khảo sát Bác sĩ (IPSOS, 2018)
South Africa, Khảo sát Bác sĩ phụ khoa (IPSOS, 2018)
South Africa, Khảo sát Nữ hộ sinh (IPSOS, 2018)
South Africa, Khảo sát Dược sĩ (IPSOS, 2018)
United Kingdom, Khảo sát Dược sĩ (3 Gem, 2018)
Zimbabwe, Khảo sát Bác sĩ (Marketers Association of Zimbabwe, 2016)
Zimbabwe, Khảo sát Nữ hộ sinh (Marketers Association of Zimbabwe, 2016)
Zimbabwe, Khảo sát Dược sĩ (Marketers Association of Zimbabwe, 2016)
Bán chạy số 1
Sản phẩm ngăn ngừa sẹo và vết rạn bán chạy số 1
Australia (Aztec Segment and item list as defined by Aspen Pharmacare, based on AU Grocery & Pharmacy Scan combined data within Hand & Body Skin Care Database. September, 2017)
Belgium (IMS data Q2 2019 (value))
Botswana (Medswana (Pty) Ltd, 2016)
Canada (Nielsen MarketTrack. Specialty Creams, Lotions and Scar Treatments. National Grocery, Drug + Mass, 52 weeks ending Feb 3, 2018)
Finland (Pharmacy data and GFT retail data, value sales, 2016)
Germany (Nielsen IMS Health)
Hungary (IMS Health Pharmacy Survey Q1, 2016)
Ireland (IMS Firming & Anti-Stretch Mark Total value 52 week period July 18)
Italy (IMS Dataview Multichannel, Pharmacy + Parapharmacy + Corner Gdo, Reconstructed Class Anti-stretch marks (82F2A) + Scars (46A3), sell-out volume, rolling year ending in September 2018. )
Kenya (Consumer Insight, 2015)
Liechtenstein (IMS Health GmbH - Pharma Trend, Units & Sales Value, Sept 2017)
Malaysia (Nielsen, Scar & Stretch Mark, PM Drugstore/Pharmacy, January - June 2017)
Namibia (Geka Pharma (Pty) Ltd 2016 and Nampharm 2016)
Netherlands (IRI, YTD 52 2016)
New Zealand (IRI, National Combined MAT, October 2015)
Poland (IQVIA Poland Pharmascope 04/2019, 82F2 FIRMING&A-STRETCH PRODS, Value(PLN), MAT 04/2019 © 2019 IQVIA and its affiliates. All rights reserved.)
Portugal (39,4% Nº1 in Strech Market - Pharmacy only IQVIA Portugal July 2019)
Singapore (Nielsen, Scar & Stretch Mark, PM Drugstore/Pharmacy, 2016)
South Africa (Nielsen, Total Value ranking 52 week period ending 31 Jan 2018)
Swaziland (Swazi Pharm Wholesalers (Pty) Ltd, 2016)
Sweden (Nielsen Scanningdata, HPC, Other Skincare, Scars/Stretchmarks, MAT W52, 2018)
Switzerland (IMS Health GmbH - Pharma Trend, Units & Sales Value, Sept 2017)
Ukraine (PharmStandard)
United Kingdom (IRI Value Sales, Skincare Treatments category, Total UK, 52 weeks ending 1 Dec 2018)
Zimbabwe (Marketers Association of Zimbabwe, May 2016)

Hệ thống cửa hàng
Vietnam
Giá bán lẻ đề nghị
₫190,000 (60ml)

có sẳn tại các điểm
Nhà thuốc và các cửa hàng mĩ phẩm trên toàn quốc



DA KHÔ
Tiên phong trong công nghệ mới cho những bệnh nhân da khô.
Bio-Oil home Bio-Oil home
keyboard_arrow_up
Nghiên cứu về tính khóa ẩm, 2018
Trung tâm thử nghiệm
Trung tâm thử nghiệm Rigano, Milan, Ý.
Mục tiêu
Nghiên cứu khả năng khóa ẩm của Bio-Oil Gel Chăm Sóc Da Khô và vì vậy khả năng duy trì độ ẩm bằng việc giảm mất nước qua lớp biểu bì da (TEWL).
Phương pháp thử nghiệm
Đổ đầy nước vào một chiếc cốc và phủ lên bề mặt chiếc cốc lớp màng bán thấm được gọi là Vitro-Skin™, tương tự như bề mặt của da. Thoa một lớp Bio-Oil Gel Chăm Sóc Da Khô lên lớp màng bán thấm, tỷ lệ mất nước của chiếc cốc được đánh giá sau một thời gian. So sánh tỷ lệ mất nước bằng cách theo dõi lượng nước mất qua chiếc cốc có thoa Bio-Oil Gel Chăm Sóc Da Khô và chiếc cốc không có bất kỳ sản phẩm nào trên lớp màng.
Kết quả
Phương pháp kiểm tra tỷ lệ bốc hơi nước là một phương pháp cơ bản để đánh giá khả năng khóa ẩm của sản phẩm. Chất khóa ẩm là những chất có khả năng làm giảm tỷ lệ bốc hơi nước ra bên ngoài. Chiếc cốc có thoa Bio-Oil Gel Chăm Sóc Da Khô giúp làm giảm tỷ lệ bốc hơi nước so với chiếc cốc không có thoa sản phẩm. Kết luận, Bio-Oil Gel Chăm Sóc Da Khô giúp làm giảm quá trình bốc hơi nước cho công dụng khóa ẩm hiệu quả.
Tổng quan
Bio-Oil Gel Chăm Sóc Da Khô cung cấp một giải pháp hoàn toàn mới giúp cải thiện da khô hiệu quả. Những sản phẩm truyền thống dạng cream, lotion hay bơ dưỡng thể thường chứa thành phần chủ yếu là nước, dễ bốc hơi khi tiếp xúc với da. Vì vậy, chúng ta thường có cảm giác làn da mát hơn khi thoa những sản phẩm dạng này. Bio-Oil Gel Chăm Sóc Da Khô với công thức chuyên biệt được tạo thành từ dầu, cảm giác "ấm" khi thoa lên da. Trong một cuộc thử nghiệm, nhiều người tham gia nghiên cứu cho rằng Bio-Oil Gel Chăm Sóc Da Khô là sản phẩm dành cho da khô tốt nhất trong những sản phẩm mà họ đã từng được sử dụng.

Thành phần
Paraffinum Liquidum, Isopropyl Palmitate, Triisononanoin, Cetearyl Ethylhexanoate, Glycerin, Butyrospermum Parkii Butter, Aqua, Isopropyl Myristate, Urea, Caprylic/Capric Triglyceride, Isostearyl Isostearate, C26-28 Alkyl Dimethicone, Sodium Lactate, Gluconolactone, Sodium PCA, Sodium Hyaluronate, Octyldodecyl PCA, Sucrose Laurate, Sucrose Stearate, Lactic Acid, Lanolin, Butylene Glycol, Dimethicone/Vinyl Dimethicone Crosspolymer, Bisabolol, Tinh dầu hạt hướng dương, Silica, Tinh dầu đậu tương leo, BHT, Vitamin A, Tocopheryl Acetate, Vitamin B3, Linoleic Acid, Linolenic Acid, Vitamin E, Tinh dầu cúc la mã, Chiết xuất cúc xu xi, Tinh dầu lá hương thảo, Tinh dầu oải hương, Chất thơm, Farnesol, Limonene, Linalool, CI 17200.

Nghiên cứu lâm sàng
Nghiên cứu về hiệu quả dưỡng ẩm, 2018
Nghiên cứu về hiệu quả dưỡng ẩm, 2018
Trung tâm thử nghiệm
Thomas J. Stephens & Associates, Inc., Texas, Mỹ.
Mục tiêu
Đánh giá hiệu quả dưỡng ẩm Bio-Oil Gel Chăm Sóc Da Khô,
Mẫu thử
Đối tượng: 28 phụ nữ với thang đo màu sắc da loại I là 1 người, loại II là 13 người và loại III là 14 người. Độ tuổi từ 29 đến 65 tuổi.
Phương pháp thử nghiệm
Nghiên cứu ngẫu nhiên có đối chứng trên cơ thể được chia làm hai, người đánh giá không biết thông tin về đối tượng nghiên cứu. Sau 1 tuần liên tục bị khô da, bệnh nhận được điều trị trong 2 tuần và ngưng sử dụng trong 3 ngày. Trong suốt 2 tuần điều trị, đối tượng tham gia thử nghiệm thoa Bio-Oil Gel Chăm Sóc Da Khô lên da một bên chân và chân còn lại giữ nguyên không thoa sản phẩm. Đánh giá thử nghiệm được thực hiện vào thời điểm bắt đầu và ngày 2,4,7, 9 và 14 và sau khi ngưng sử dụng sản phẩm ngày 1, 2 và 3. Đối tượng tham gia thử nghiệm được đánh giá theo thang điểm từ 1 đến 5, với 5 là mức rất khô. Phương pháp đánh giá độ ẩm của da được đánh giá bằng Cornometer và SKICON. Phương pháp đánh giá sự mất nước qua da (TEWL), cũng như chức năng của hàng rào bảo vệ da, Tewameter.
Kết quả
So với bên không điều trị, Bio-Oil Gel Chăm Sóc Da Khô được đánh giá cao về mức độ hài lòng trong thang điểm cải thiện da khô, bằng phương pháp SKICON và phương pháp Corneometer, tại tất cả các thời điểm đánh giá; và phương pháp Tewameter, tại thời điểm điều trị ngày thứ 14 và 3 ngày sau khi ngưng sử dụng sản phẩm. Dựa trên thang điểm đánh giá sự hài lòng về hiệu quả cải thiện da khô, 82% đối tượng hài lòng về hiệu quả sau 2 ngày sử dụng. Sau 2 tuần, 100% đối tượng hài lòng về hiệu quả, mức độ hài lòng gần như gấp 3 lần so với ngày thứ 2. Sau 3 ngày ngưng điều trị, 93% đối tượng hài lòng về hiệu quả cải thiện so với thời điểm bắt đầu tham gia nghiên cứu.
Nghiên cứu về tính hiệu quả trên da khô, 2017
Nghiên cứu về tính hiệu quả trên da khô, 2017
Trung tâm thử nghiệm
Ayton Global Research, Somerset, Anh quốc.
Mục tiêu
Nghiên cứu trên 102 người thử nghiệm để đánh giá hiệu quả Bio-Oil Gel Chăm Sóc Da Khô trên cơ thể.
Mẫu thử
Đối tượng: 102 phụ nữ theo cảm nhận bản thân da trên cơ thể "rất khô", độ tuổi từ 18 tuổi trở lên.
Phương pháp thử nghiệm
Thời gian nghiên cứu 2 tuần, khu vực đơn lẻ, thử nghiệm tại nhà đói tượng tham gia. Đối tượng thử nghiệm thoa sản phẩm hàng ngày lên vùng da bị khô. Được yêu cầu trả lời 2 câu hỏi ngắn tại thời điểm ngay sau khi thoa sản phẩm và 2 tuần sử dụng sản phẩm.
Kết quả
Khi sử dụng sản phẩm: 94% đối tượng đồng ý rằng" sản phẩm dễ dàng thoa lên da" và 96% đối tượng đồng ý rằng "chỉ cần dùng một lượng nhỏ cho cả vùng da lớn hơn".
Khả năng thẩm thấu: 83% đối tượng đồng ý rằng " sản phẩm thẩm thấu nhanh khi thoa lên da".
Khả năng cấp ẩm: 92% đối tượng đồng ý rằng " làn da được dưỡng ẩm ngay lập tức"; 80% đối tượng đồng ý rằng " làn da được dưỡng ẩm suốt cả ngày"; 86% đối tượng đồng ý rằng "làn da khô của họ được cải thiện trong 2 tuần sử dụng Bio-Oil Gel Chăm Sóc Da"; và 85% đối tượng đồng ý rằng "làn da được cải thiện tốt hơn so với thời điểm tham gia thử nghiệm".
Kết luận: 62% đối tượng cho rằng " Bio-Oil Gel Chăm Sóc Da Khô là sản phẩm tốt nhất trong tất cả các sản phẩm dành cho da khô đã từng dùng".
Nghiên cứu trên da nhạy cảm, 2017
Nghiên cứu trên da nhạy cảm, 2017
Trung tâm thử nghiệm
Viện nghiên cứu da liễu ứng dụng proDERM, Hamburg, Đức.
Mục tiêu
Nghiên cứu khả năng da bị kích ứng, nhạy cảm với Bio-Oil Gel Chăm Sóc Da Khô.
Mẫu thử
Đối tượng: 31 người tham gia (26 nữ và 5 nam), 52% đối tượng có da nhạy cảm ( theo cảm nhận bản thân), 26% thuộc loại da bị dị ứng loại IV (trừ các thành phần mỹ phẩm) và 48% viêm da cơ địa. Độ tuổi: 20 -70 tuổi.
Phương pháp thử nghiệm
Nghiên cứu ngẫu nghiên có đối chứng. 3 khu vực được đánh giá: khu vực thoa nước khoáng (đối chứng âm tính), khu vực thoa Bio-Oil Gel Chăm Sóc Da Khô và khu vực thoa Sodium Dodecyl Sulfate (SDS) 1% ( đối chứng dương tính - chất gây kích ứng da biết trước). Sản phẩm được thoa 1 lần lên da vùng lưng trong 24h sử dụng hệ thống xét nghiệm dị ứng bằng một miếng dán. Đánh giá kết quả bằng cảm quan để theo dõi mức độ kích ứng da được thực hiện lặp lại 15 phút, 24 giờ và 48 giờ sau khi gỡ miếng dán. Làn da được đánh giá theo thang điểm từ 0-4 điểm (được bắt đầu từ mức độ 0 không có phản ứng dị ứng và 4 dị ứng rất nặng với những biểu hiện tương tự như eczema tại vùng da được thử nghiệm và hình thành những nốt mụn nước).
Kết quả
Không có đối tượng tham gia nghiên cứu nào gặp phải phản ứng bất lợi với sản phẩm, điểm đánh giá giống như nhóm không sử dụng với thang điểm 0 cho tất cả các đối tượng vào tất cả các thời điểm nghiên cứu. Do đó, khả năng dung nạp của Bio-Oil Gel Chăm Sóc Da Khô trên da liên quan đến tiêu chí kích ứng được kết luận là "không gây kích ứng".
Nghiên cứu về tính gây mụn, 2018
Nghiên cứu về tính gây mụn, 2018
Trung tâm thử nghiệm
Viện nghiên cứu da liễu ứng dụng proDERM, Hamburg, Đức.
Mục tiêu
để đánh giá khả năng gây mụn của Bio-Oil Gel chăm sóc da khô.
Mẫu thử
Đối tượng 24 người tham gia da bị mụn. Giới tính: 7 nam và 17 nữ. Tuổi từ 24-56 tuổi.
Phương pháp thử nghiệm
Nghiên cứu ngẫu nhiên có đối chứng. Sản phẩm thử nghiệm (được che lại) và 2 nhóm đối chứng (khu vực không điều trị A và khu vực không điều trị nhưng được che lại B) được phân chia ngẫu nhiên với 3 vùng da bị mụn phần lưng trên (bã vai). Sản phẩm thử nghiệm được thoa trên vùng da tương tự 3 lần mỗi tần trong 4 tuần (tổng cộng 12 lần thoa). Vào cuối nghiên cứu. 1 sinh thiết trên bề mặt da SSB được tiến hành trên mỗi vùng da thử nghiệm, sử dụng phương pháp nghiên cứu của Marks và Dawber. Đánh giá khả năng gây mụn bằng thang đo của Mills và Kligman.
Kết quả
Bio-Oil Gel Chăm Sóc Da Khô không gây mụn, mặt khác khả năng gây mụn của Bio-Oil Gel Chăm Sóc Da Khô thấp hơn đáng kề vùng da không theo dõi kết quả.
Nghiên cứu về tính khóa ẩm, 2018
Nghiên cứu về tính khóa ẩm, 2018
Trung tâm thử nghiệm
Trung tâm thử nghiệm Rigano, Milan, Ý.
Mục tiêu
Nghiên cứu khả năng khóa ẩm của Bio-Oil Gel Chăm Sóc Da Khô và vì vậy khả năng duy trì độ ẩm bằng việc giảm mất nước qua lớp biểu bì da (TEWL).
Phương pháp thử nghiệm
Đổ đầy nước vào một chiếc cốc và phủ lên bề mặt chiếc cốc lớp màng bán thấm được gọi là Vitro-Skin™, tương tự như bề mặt của da. Thoa một lớp Bio-Oil Gel Chăm Sóc Da Khô lên lớp màng bán thấm, tỷ lệ mất nước của chiếc cốc được đánh giá sau một thời gian. So sánh tỷ lệ mất nước bằng cách theo dõi lượng nước mất qua chiếc cốc có thoa Bio-Oil Gel Chăm Sóc Da Khô và chiếc cốc không có bất kỳ sản phẩm nào trên lớp màng.
Kết quả
Phương pháp kiểm tra tỷ lệ bốc hơi nước là một phương pháp cơ bản để đánh giá khả năng khóa ẩm của sản phẩm. Chất khóa ẩm là những chất có khả năng làm giảm tỷ lệ bốc hơi nước ra bên ngoài. Chiếc cốc có thoa Bio-Oil Gel Chăm Sóc Da Khô giúp làm giảm tỷ lệ bốc hơi nước so với chiếc cốc không có thoa sản phẩm. Kết luận, Bio-Oil Gel Chăm Sóc Da Khô giúp làm giảm quá trình bốc hơi nước cho công dụng khóa ẩm hiệu quả.